Sức khỏe

Tác dụng của cây chó đẻ

04/03/2020 05:55 AM
Cây chó đẻ có nhiều tên gọi khác nhau: Cây chó đẻ răng cưa, cây diệp hạ châu, diệp hạ châu đắng, cây cau trời, cây tán sỏi, cây mát gan. Loại cây này có tác dụng đặc biệt làm mát gan, giải độc gan giúp điều trị các bệnh về gan và một số bệnh khác.

Cây chó đẻ

Cây chó đẻ hay Diệp hạ châu là loại thảo dược mọc dại có vị đắng và tính mát thường được dùng để giải độc gan và hỗ trợ chữa viêm gan siêu vi trùng.

  • Tên khác: Cây chó đẻ, chó đẻ răng cưa, diệp hạ châu đắng, cây cau trời
  • Tên Hán Việt: Trân châu thảo, diệp hậu châu, nhật khai dạ bế
  • Tên khoa học: Phyllanthus urinaria
  • Họ: Phyllanthaceae

Cây chó đẻ, diệp hạ châu, cây mát gan

Cây chó đẻ răng cưa, cây diệp hạ châu, diệp hạ châu đắng, cây cau trời, cây tán sỏi, cây mát gan...

Đặc điểm sinh thái của cây diệp hạ châu

Diệp hạ châu là loại cây thân thảo sống một năm. Cây thường mọc thẳng hoặc nằm bò với chiều cao trung bình 80 cm. Thân cây có màu hồng, gần phần gốc thường tạo nhiều nhánh thẳng hoặc nằm sóng soài. Lá diệp hạ châu xếp thành hai dãy, cuống rất ngắn. Lá kèm với phiến lá mỏng như giấy, hình mũi mác hoặc trứng. Hoa có hoa đực và hoa cái riêng nhưng mọc ở cùng một cành. Cụm hoa đực mọc ở nách gần ngọn, không có cuống hoặc cuống rất ngắn. Hoa cái mọc đơn độc phía dưới càng, có hình mũi mác. Quả nang không có cuống và có hạt hình 3 cạnh.

Phân bố

Cây diệp hạ châu là loại cây mọc hoang ở khắp nơi và thường tìm thấy chủ yếu ở các nước vùng nhiệt đới như

Ấn Độ Lào Indonesia Đài Loan Nepal Nhật Bản Thái Lan Trung Quốc như tỉnh An Huy, Quảng Tây, Hải Nam, Hồ Nam, Hà Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Chiết Nam, Tây Tạng, Quảng Đông, Hồ Bắc, Thiểm Tây, Tây Tạng, Giang Tô Bhutan Nam Mỹ Việt Nam + Bộ phận dùng, thu hái, chế biến và bảo quản

Bộ phần dùng

Toàn bộ cây 

Thu hái

Có thể thu hoạch quanh năm Chế biến: Diệp hạ châu sau khi thu hoạch, rửa sạch, thái khúc rồi phơi nắng cho gần khô. Sau đó, đe, phơi trong bóng râm cho đến khô rồi cất dùng dần. Bảo quản: Nơi khô ráo + 

Thành phần hóa học

Mỗi bộ phận cây diệp hạ châu chứa các thành phần hóa học khác nhau. Chẳng hạn, lá diệp hạ châu chứa lượng lớn hoạt chất đắng như phyllathin và hypophyllanthin. Còn trong thân cây có các chất như

Nirtetralin Niranthin Flavonoid Phylteralin Alcaloid kiểu securinin như niruroidin và isobubialin Lignan Acid hữu cơ như geraniinic, acid ascorbic, repandusinic A và acid amariinic.

Tính vị

Theo Đông y, diệp hạ châu có tính mát và vị hơi đắng

Quy kinh

Tác dụng vào Can và Phế

Tác dụng của cây chó đẻ

Theo học cổ truyền cây chó đẻ có tác dụng sau:

Diệp hạ châu được sử dụng làm dược liệu từ năm 2000. Theo tài liệu ghi chép Trung Quốc Cao Đẳng Thực Vật Đồ Giám Bản năm 1972, diệp hạ châu có tác dụng như:

Lương huyết Thẩm thấp Thanh can Minh mục Sát trùng Lợi tiểu Tán ứ Tiêu viêm Giải độc

Tác dụng của cây chó đẻ theo y học hiện đại:

1. Điều trị bệnh viêm gan

Dựa vào nghiên cứu vào năm 1982, Break Stone đã cho thấy tác dụng chống vi rút viêm gan B của cây diệp hạ châu. Và nghiên cứu năm 1980 của Ấn Độ và Nhật bản cũng xác định công dụng điều trị bệnh gan của diệp hạ là nhờ các hoạt chất chứa trong loại cây này như triacontanal, phyllanthin và hypophyllathin.

Tại Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của cây diệp hạ châu đối với sức khỏe. Cụ thể như nghiên cứu của tác giả Lê Võ Định Tường (Học Viện Quân Y – 1990 – 1996) đã thành công với chế phẩm Hepamarin chiết xuất từ thành phần phyllanthus amarus có trong cây diệp hạ châu. Ngoài ra, nghiên cứu bột Phyllanthi từ cây diệp hạ châu vào năm 2001 của nhóm tác giả Trần Danh và Nguyễn Thượng Dong cũng chỉ ra, hoạt chất này có tác dụng hỗ trợ điều trị gan.

2. Giải độc, chống viêm, diệt khuẩn

Không chỉ riêng người Việt Nam, người dân Trung Quốc và Ấn độ thường sử dụng diệp hạ châu với mục địch điều trị chứng mụn nhọt, rắn cắn, giun. Ngoài ra, nhân dân Java sử dụng loại cây này để chữa bệnh lậu. Và theo kinh nghiệm của người Malaysia, diệp hạ châu có tác dụng chữa viêm âm đạo, giang mai và điều trị chứng viêm đường tiết niệu.

Vào năm 1987 – 2000, công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu ở Việt Nam đã cho thấy, cây diệp hạ châu có tác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm khi dùng liều 10 – 50 g/kg.

3. Cải thiện hệ thống miễn dịch

Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản đã nghiên cứu và phát hiện hoạt chất Phyllanthus niruri có trong diệp hạ châu có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi rút gây HIV. Vào năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã nghiên cứu và cho kết quả tương tự.

4. Điều trị đường tiêu hóa, kích thích ăn ngon miệng

Diệp hạ châu có tác dụng giúp ăn ngon và kích thích trung tiện. Người dân Ấn Độ thường sử dụng chúng để điều trị bệnh táo bón, thương hàn, kiết lỵ. Ngoài ra, nhân dân Java cũng dùng để cải thiện chứng rối loạn tiêu hóa và đau dạ dày.

5. Bệnh đường hô hấp

Người dân Ấn Độ sử dụng thảo dược diệp hạ châu để điều trị bệnh viêm phế quản, ho hay hen phế quản.

6. Tác dụng giảm đau

Các nhà nghiên cứu Brazil đã chỉ rõ tác dụng giảm đau của diệp hạ châu mạnh gấp 4 lần indomethacin và 3 lần morphin, nhờ chứa các hoạt chất như gallic, hỗn hợp steroid (stigmasterol và beta sitosterol) và ester ethyl.

7. Lợi tiểu, điều trị sỏi thận và sỏi mật

Nghiên cứu vào năm 1984 của trường Đại học Dược Santa Catarina – Brazil đã phát hiện hoạt chất alkaloid có trong diệp hạ châu có tác dụng chống co thắt cơ trơn và cơ vân, giúp điều trị sỏi thận và sỏi mật. Với đặc tính lợi tiểu và trị phù thũng, vị thuốc này được Viên Đông y Hà Nội sử dụng trong việc điều trị xơ gan cổ trướng vào năm 1967.

8. Giảm đường huyết

Vào năm 1995, diệp hạ châu được chứng minh có tác dụng giảm đường huyết khi cho bệnh nhân uống liên tục trong 10 ngày.

Cách dùng diệp hạ châu tốt nhất Diệp hạ châu có tác dụng lợi tiểu, mát gan. Người bệnh có thể dùng thuốc bằng sắc thuốc uống. 

Cây chó đẻ, cây diệp hạ châu

Cây chó đẻ hay Diệp hạ châu có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe.


Bài thuốc từ cây chó đẻ

1. Sử dụng cây chó đẻ chữa viêm gan siêu vi

Cây chó đẻ đắng 16g, Nhân trần nam16g, Vỏ bưởi (phơi khô, sao) 4g, Hậu phác 8g, Thổ phục linh 12g.

Nếu cơ thể quá suy nhược có thể gia thêm rễ Đinh lăng 12g, nhiệt nhiều gia thêm Rau má 12g, Hạt dành dành 12g, báng tích nhiều gia Vỏ đại 8g. Sự phối hợp giữa cây chó đẻ, Nhân trần và Thổ phục linh tăng tác dụng giải độc, chống siêu vi. Gia thêm Vỏ bưởi, Hậu phác ấm nóng giúp kiện Tỳ để trung hoà bớt tính mát của Nhân trần và cây chó đẻ khi cần sử dụng lâu dài.

2. Chữa suy gan do rượu, sốt rét, nhiễm độc do môi trường hoặc các trường hợp hay nổi mẩn, nổi mụn do huyết nhiệt

Cây chó đẻ đắng 12g, Cam thảo đất 12g. Sắc nước uống hàng ngày thay trà.

3. Chữa sạn mật, sạn thận bằng cây chó đẻ

 Cây chó đẻ đắng 24g. Sắc uống, sắc làm 2 nước để vừa tận dụng được hoạt chất vừa uống thêm nhiều nước. Nếu đầy bụng, ăn kém gia thêm Gừng sống hoặc Hậu phác. Để ngăn chận sỏi tái phát, thỉnh thoảng nên dùng diệp hạ châu dưới hình thức hãm uống thay trà, liều khoảng 8 đến 10g mỗi ngày.

4. Cách chữa sốt rét bằng cây chó đẻ

Cây chó đẻ đắng 16g, Thảo quả 12g, Thường sơn 16g, Hạ khô thảo 12g, Binh lang 8g, Đinh lăng 12g. Sắc uống.

5. Chữa xơ gan cổ trướng

Lấy 100 gram diệp hạ châu sắc với 4 lần nước. Lần đầu sắc với 3 bát nước cho cạn còn 1 bát. Các lần còn lại sắc với 2 bát và lấy nửa bát thuốc. Sau đó, trộn chung thuốc sắc lại với nhau rồi thêm 100 gram đường, đun sôi. Chia thuốc ra làm 6 phần và uống trong ngày. Thời gian điều trị bệnh từ 30 – 40 ngày.

Một số lưu ý khi dùng cây chó đẻ

  • Cây chó đẻ không có độc tính, độ an toàn cao ngoại trừ một số trường hợp đau cơ, co giật trong khi điều trị sỏi thận hoặc sỏi mật do quá trình tống xuất sỏi. Tuy nhiên, cây chó đẻ có tính mát có thể gây trệ Tỳ, đầy bụng ở những người có Tỳ Vị hư hàn, dùng liều cao hoặc dùng lâu ngày. Do đó, những trường hợp nầy nên phối hợp với những vị thuốc có tính cay ấm để dung hoà bớt tính mát của cây chó đẻ.
  • Diệp hạ châu có tính mát, giúp làm mát và thanh lọc gan. Tuy nhiên, nếu sử dụng quá liều trong thời gian dài có thể gây lạnh gan dẫn đến xơ gan. Bên cạnh đó, không nên dùng vị thuốc này cho người có thể tỳ vị hư hàn như người dễ bị đầy bụng, đại tiện lỏng, khó tiêu hoặc sợ lạnh. Bởi diệp hạ châu không giúp chữa khỏi mà khiến tình trạng bệnh trở nên tồi tệ hơn.
  • Gần đây có một số thông tin cho rằng uống cây chó đẻ có thể gây vô sinh. Điều nầy có lẻ bắt nguồn từ 1 nghiên cứu về tác dụng ngừa thai của cây chó đẻ trên trên loài chuột của các nhà khoa học trường Đại học Gujaret ở Ấn độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cho chuột uống cao toàn thân cây cây chó đẻ liều 100mg/kg thể trọng đối với chuột cái hoặc 500mg/kg thể trọng đối với chuột đực có thể tạm thời ức chế khả năng sinh sản trong thời gian thí nghiệm 30 ngày (chuột cái) hoặc 45 ngày (chuột đực). Sau khi ngưng uống cây chó đẻ, khả năng nầy phục hồi bình thường. Điều này khác với vô sinh. Hơn nữa chỉ mới là thử nghiệm ban đầu trên loài vật. Tuy nhiên, những người đang muốn có con không nên dùng cây chó đẻ.

Một số nghiên cứu khác về cây chó đẻ

Tác dụng của cây chó đẻ và cây tán sỏi

Ở phương tây, cây chó đẻ và một số loài thực vật cùng họ Euphorbiaceae được gọi tên là Chanca Piedra. Tên Chanca Piedra có xuất xứ từ thổ ngử của 1 bộ lạc người da đỏ ở Peru với ý nghĩa Break Stone, tạm dịch là cây tán sỏi. (Từ Chanca có nghĩa to break làm bể hoặc bẻ gảy; từ Piedra có nghĩa stone sạn, sỏi). Cây chó đẻ là 1 cây thuốc phổ biến được sử dụng từ lâu đời ở Nam Mỹ để điều trị nhiều loại bệnh khác nhau như phù thủng, bệnh gout, sốt rét, thương hàn, cảm cúm, bón uất, kiết lỵ, ung nhọt, lở loét, tiểu đường.

Tuy nhiên, ngay từ những thời kỳ đầu biết đến loại thực vật này, khi mà tình trạng nhiễm độc gan và viêm gan không nghiêm trọng như bây giờ, kinh nghiệm dân gian cũng như những vị pháp sư đã có được ấn tượng rất đặc biệt của cây chó đẻ trong tác dụng làm tiêu sỏi trong các chứng sạn mật, sạn thận nên đã đặt tên là cây tán sỏi. Trong Witch Doctor’s Apprentice, 1 quyển sách được xuất bản từ 1961, viết về những bí thuật chữa bệnh của những vị pháp sư người da đỏ ở vùng rừng già Amazon, bà Nicole Maxwell cho biết Chanca Piedra là loại thảo dược chủ yếu của những vị pháp sư ở đây. Sau đó, bà cũng đã gặp ông Wolfram Wiemann, một bác sĩ người Đức ở Nuremburg. Vị này cho biết 94% bệnh nhân mắc sỏi thận và sỏi mật của ông đã được chữa khỏi hoàn toàn từ 1 đến 2 tuần lễ bằng vị thuốc này.

Một nghiên cứu ở trường Đại học Y Paulists ở Sao Paulo, Brazil vào năm 1990 đã cho biết cây chó đẻ chữa khỏi sỏi thận ở người và chuột thí nghiệm sau khi được cho uống trà diệp hạ châu từ 1 đến 3 tháng. Những nghiên cứu tiếp theo vào năm 1999 cũng xác định những hoạt chất của cây chó đẻ có tác dụng gia tăng lượng nước tiểu, ngăn cản sự tạo thành những tinh thể calcium oxalate cũng như làm giảm kích thước những viên sỏi đã hình thành. Kết quả này cũng phù hợp với những nghiên cứu sau đó cho biết cây chó đẻ có tác dụng lợi tiểu, tăng tiết mật và giãn cơ, đặc biệt là các cơ ở vùng sinh dục tiết niệu và ống mật. Những tác dụng này dẫn đến hiệu quả trục xuất sỏi. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho biết tác dụng làm bể nhưng tinh thể calcium oxalate và cả tác dụng giảm đau kéo dài của cây chó đẻ cũng hổ trợ tốt cho việc chữa sỏi thận.

Tác dụng của cây chó đẻ trong việc giải độc gan và chữa viêm gan siêu vi B

Cây chó đẻ được Đông y sử dụng như 1 loại thuốc thanh Can lương huyết, giải độc sát trùng từ lâu đời. Tuy nhiên, tác dụng giải độc gan và chữa viêm gan siêu vi B chỉ mới được các nhà khoa học lưu ý từ những năm 1980s về sau.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật bản và Ấn độ đã cho biết họ đã phân lập được những hợp chất trong cây chó đẻ có khả năng chữa bệnh viêm gan như phyllantin, hypophyllantin và triacontanal, gan nhiễm mỡ. Tác động chống virus siêu vi B được báo cáo lần đầu tiên tại Ấn độ vào năm 1982. Sau đó, một báo cáo trên tạp chí Lancet vào năm 1988 cũng xác định tác dụng này. Theo báo cáo này 2 nhà khoa học Blumberg và Thiogarajan đã điều trị 37 trường hợp viêm gan siêu vi B với kết quả 22 trong số 37 người đã đạt được kết quả âm tính sau 30 ngày dùng diệp hạ châu. Ðối với viêm gan siêu vi, diệp hạ châu có khả năng làm hạ men gan, tăng cường chức năng gan và ức chế sự phát triển của virus. Theo các nhà khoa học, những tác nhân gây viêm gan hoặc hoại tử tế bào gan thường bắt đầu từ sự gia tăng quá trình peroxide hoá lipid ở màng tế bào. Do đó, bảo vệ gan phải bắt đầu từ những chất chống oxy hoá có tính năng ức chế qúa trình này. Cây chó đẻ có hàm lượng những chất chống oxy hoá hướng gan có khả năng ức chế rất mạnh quá trình peroxide hoá ở gan. Ngoài ra, những chất này còn làm gia tăng hàm lượng Glutathione ở gan làm giảm hoạt động các enzym SGOT và SGPT trong những trường hợp viêm gan siêu vi đang tiến triển.

Viêm gan siêu vi B là 1 căn bệnh nguy hiểm đang ảnh hưởng đến trên 300 triệu người trên thế giới mà sự chữa chạy bằng tây y rất tốn kém kể cả những phản ứng phụ không thể tránh được. Do dó, sử dụng cây chó đẻ là một giải pháp đáng lưu ý. Trên thực tế, cây chó đẻ thường được sử dụng phối hợp với một số thảo dược khác. Điều này vừa làm tăng tác dụng chữa bệnh vừa làm dung hoà bớt tính mát của cây chó đẻ. Hiện nay, trên thị trường cũng đã có nhiều sản phẩm cây chó đẻ dưới hình thức trà, thuốc viên hoặc độc vị hoặc có phối hợp với một số vị khác. Một số trường hợp chỉ cần dùng độc vị cây chó đẻ cũng chữa khỏi viêm gan. Điều quan trọng là cần có sự phối hợp của chế độ ăn ít mỡ, nhiều rau quả và năng vận động.

Trong cơ thể con người, gan có thể ví như 1 nhà máy lọc to lớn có chức năng giải độc cho cơ thể để duy trì các chức năng bình thường của tất cả các cơ quan. Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, do môi trường ô nhiễm, do tâm lý căng thẳng và việc tiếp xúc với những hoá chất độc hại cũng như sử dụng nhiều loại hoá dược, gan luôn luôn phải đối phó với nhu cầu cần được sơ tiết và giải độc. Nhiều người cho rằng cây chó đẻ là 1 trong những loại thực vật hàng đầu có thể đáp ứng được yêu cầu này.

Kinh nghiệm sử dụng ở nước ta thường phân ra 2 loại cây chó đẻ đắng và cây chó đẻ ngọt. Cây chó đẻ đắng có dược lực cao hơn cây chó đẻ ngọt. Theo y học cổ truyền, vị đắng đi vào kinh Can, Đởm có tác dụng kích thích tiêu hoá, tăng tiết mật. Theo những nghiên cứu của y học phương Tây, cây chó đẻ đắng sẽ có nhiều chất chống oxy hoá thuộc nhóm xanthones hơn. Do đó, dược tính cũng cao hơn. Với cây chó đẻ đắng, liều dùng trung bình từ 10 đến 20g mỗi ngày (dạng phơi khô).

Thân Thiện